Tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn luật chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn luật chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Kiểm tra cơ sở sản xuất hàng hóa gia công cho thương nhân nước ngoài

4
Ngày 24/01/2014, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 13/2014/TT-BTC quy định thủ tục hải quan đối với hàng hóa gia công với thương nhân nước ngoài, trong đó đáng chú ý là quy định về các trường hợpkiểm tra cơ sở sản xuất hàng hóa nhận gia công tại Việt Nam chothương nhân nước ngoài.
Theo đó, sau khi thương nhân nộp đầy đủ hồ sơ thông báo hợp đồng gia công hoặc trong quá trình thương nhân sản xuất sản phẩm, lãnh đạo Chicục Hải quan quản lý hợp đồng gia công có thể ra quyết định kiểm tra cơ sở sản xuất của thương nhân trong các trường hợp sau: Thương nhân thông báo thực hiện hợp đồng gia công lần đầu tại cơ quan hải quan hoặc đã thông báo hợp đồng gia công tại Chi cục Hải quan khác nhưng Chi cục Hải quan nơi đã tiếp nhận hợp đồng gia công chưa kiểm tra cơ sở sản xuất; thương nhân nhận gia công nhưng không thực hiện mà thuê thương nhân khác gia công lại một phần hoặc toàn bộ hợp đồng/phụ lục hợp đồng gia công; thương nhân thuê lại toàn bộ nhà xưởng, mặt bằng sản xuất, máy móc, thiết bị của thương nhân khác để thực hiện hợp đồng gia công hoặc quá 02 tháng (hay chu kỳ sản xuất 01 sản phẩm đối với gia công sản phẩm đặc thù như đóng tàu, cơ khí) kể từ khi hoàn thành thủ tụcnhập khẩu lô nguyên liệu, vật tư lần đầu tiên của hợp đồng/phụ lục hợp đồng gia công nhưng không có sản phẩm xuất khẩu…
Nội dung kiểm tra cơ sở sản xuất bao gồm kiểm tra địa chỉ cơ sở sản xuất; quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp về nhà xưởng, mặt bằng sản xuất; máy móc, thiết bị tại cơ sở sản xuất; tình hình nhân lực thực hiện hợp đồng gia công; kiểm tra số lượng máy móc, dây chuyền, trang thiết bị hiện có tại cơ sở sản xuất và tình trạng máy móc, thiết bị…
Tải văn bản tại đây: 13_2014_TT-BTC_14222735

Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Mức thuế áp dụng cho quà tặng, quà biếu từ nước ngoài về

Thuế áp dụng cho quà tặng quà biếu(S&B Law) Hiện nay do sự phát triển của Thương mại điện tử cũng như thân nhân người Việt nam đi làm việc, học tập ở nước ngoài nhiều nên có nhu cầu gửi hàng hóa làm quà biếu, tặng hoặc kinh doanh thương mại về cho thân nhân đang ở Việt Nam.
Các hàng hóa này thường là số lượng nhỏ và được chuyển qua dạng chuyển phát nhanh. Nhiều người đang rất quan tâm liệu các hàng hóa này có thuộc diện phải nộp thuế nhập khẩu hay không?
Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 87/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 về quy định chi tiết thi hành một số điều của luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì chỉ những đối tượng sau không chịu thuế nhập khẩu:
1. Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc chuyển khẩu qua cửa khẩu Việt Nam theo quy định của pháp luật.
2. Hàng hóa viện trợ nhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại của các Chính phủ, các tổ chức thuộc Liên hợp quốc, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài (NGO), các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân người nước ngoài cho Việt Nam và ngược lại, nhằm phát triển kinh tế - xã hội, hoặc các mục đích nhân đạo khác được thực hiện thông qua các văn kiện chính thức giữa hai Bên, được cấp có thẩm quyền phê duyệt; các khoản trợ giúp nhân đạo, cứu trợ khẩn cấp nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh.
3. Hàng hóa từ khu phi thuế quan xuất khẩu ra nước ngoài; hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan; hàng hóa đưa từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế quan khác.
4. Hàng hóa là phần dầu khí thuộc thuế tài nguyên của Nhà nước khi xuất khẩu.
Theo các quy định nêu trên thì tất cả hàng hóa nhập khẩu hay là quà biếu, tặng qua dịch vụ chuyển phát nhanh từ nước ngoài về đều phải nộp thuế.
Nhưng trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu là quà biếu, tặng của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài biếu, tặng cho cá nhân là Công dân Việt Nam thì được miễn thuế khi quà biếu, tặng có tổng giá trị không quá 1.000.000 (một triệu) đồng Việt Nam hoặc tổng giá trị vượt quá 1.000.000 đồng Việt Nam nhưng số thuế phải nộp dưới 50.000 (năm mươi ngàn) đồng Việt Nam.
Điều này đã được quy định tại Điều 10 Nghị định 66/2002/NĐ-CP ngày 1/7/2002 về quy định mức hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh và quà biếu, tặng nhập khẩu được miễn thuế như sau:
1. Quà biếu, tặng được miễn thuế trong các trường hợp sau:
a) Quà biếu, tặng có tổng trị giá không quá 1.000.000 (một triệu) đồng Việt Nam;
b) Quà biếu, tặng có tổng trị giá vượt quá 1.000.000 (một triệu) đồng Việt Nam nhưng số thuế phải nộp dưới 50.000 (năm mươi nghìn) đồng Việt Nam.
2. Quà biếu, tặng có tổng trị giá vượt quá định mức miễn thuế quy định tại khoản 1 Điều này thì phần vượt được coi là hàng hoá nhập khẩu và phải tuân theo quy định của pháp luật đối với hàng hoá nhập khẩu.
3. Trường hợp quà biếu, tặng là thuốc cấp cứu, dụng cụ y tế được biếu, tặng cho người bị bệnh nặng hoặc người bị thiên tai có trị giá không quá 10.000.000 (mười triệu) đồng Việt Nam thì được miễn các loại thuế. Giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, thống nhất với Tổng cục Hải quan quy định cụ thể.
Nhưng đối với trường hợp một người hoặc nhiều người trong một gia đình thường xuyên nhận một hay một số mặt hàng nhất định thì không được áp dụng các trường hợp nêu trên.
Mặt khác tại Điều 1 Quyết định số 78/2010/QĐ-TTg ngày 30/11/2010 của Thủ tướng chính phủ quyết định về mức giá trị hàng hóa nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh được miễn thuế có quy định như sau:
Hàng hóa nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh có giá trị từ 1.000.000 đồng (một triệu đồng) trở xuống được miễn thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng.
Hàng hóa nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh có giá trị trên 1.000.000 đồng (một triệu đồng) phải nộp thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật.
Như vậy tất cả hàng hóa là quà biếu, tặng hoặc nhập khẩu qua dịch vụ chuyển phát nhanh sẽ được miễn thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng nếu thuộc các trường hợp nêu trên. Nếu ngoài các trường hợp nêu trên thì phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo Biểu thuế được quy định tại Thông tư 164/TT-BTC ngày 15/11/2013 ban hành biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt hàng chịu thuế.
- See more at: http://vi.sblaw.vn/chuyen-muc/muc-thue-ap-dung-cho-qua-tang-qua-bieu-tu-nuoc-ngoai-ve#sthash.HfcPg6z6.dpuf

Cung cấp thiếu thông tin chứng khoán, phạt đến 150 triệu đồng.

8
Phạt tiền từ 100 – 150 triệu đồng đối với công ty chứng khoán cố ý cung cấp cho khách hàng, nhà đầu tư thông tin hoặc đưa ra những nhận định, tư vấn, khuyến cáo không chính xác, không đầy đủ, không có căn cứ, che giấu sự thật về giá của 01 hoặc nhiều loại chứng khoán khiến khách hàng, nhà đầu tư hiểu nhầm về giá chứng khoán và có quyết định không đúng trong đầu tư là nội dung quy định tại Thông tư số 217/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Bên cạnh đó, tổ chức có hành vi lập, xác nhận hồ sơ đăng ký niêm yết chứng khoán, đăng ký giao dịch chứng khoán có thông tin cố ý làm sai sự thật, che giấu sự thật, sai lệch nghiêm trọng hoặc lập, xác nhận hồ sơ giả mạo để niêm yết, đăng ký giao dịch chứng khoán trong trường hợp Sở Giao dịch chứng khoán đã chấp thuận niêm yết, đăng ký giao dịch chứng khoán cho tổ chức vi phạm sẽ bị đình chỉ hoạt động niêm yết chứng khoánhoặc đăng ký giao dịch chứng khoán trong thời hạn từ 01 – 03 tháng.
Đối với tổ chức đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng thực hiện chào bán chứng khoán khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đang xem xét và chưa cấp Giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng cho tổ chức đó, mức phạt tiền bằng 01 – 05 lần khoản thu trái pháp luật từ việc thực hiện hành vi vi phạm. Trường hợp đã áp dụng mức phạt tối đa bằng 05 lần khoản thu trái pháp luật nhưng vẫn thấp hơn mức phạt tiền tối đa 400 triệu đồng theo quy định tại điểm c Khoản 4 Điều 6 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP thì mức tiền phạt được áp dụng là 400 triệu đồng.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/03/2014.